Hạt muối vị mặn của đời
![]()
Chuyện kí hợp đồng mua than của Indonesia,rồi lại đôn đáo sang tận Úc tìm kiếm nguồn cung cấp than để tiếp tục mua nữa âu cũng là chuyện đã rồi .
Có điều những mỏ than lớn ở Quảng Ninh với những vỉa than mênh mông, trải dài, chỗ lồ lộ lấp lánh dưới mặt trời mách gọi con người đến khai thác, chỗ lặn vào đất đai như muốn cất đi, để dành… vậy mà nơi nào có mỏ than, nơi đó có than thổ phỉ, nơi đó môi trường bị tàn phá tan hoang, hỗn loạn trong khai thác, kinh doanh .
Than chảy máu lênh láng ngay trước mắt những người có trách nhiệm khai thác, quản lí nguồn tài nguyên vàng đen quí giá của đất nước .
Ai đó xót xa ước lượng số than xuất lậu hàng tháng tới vài chục ngàn tấn thì có người khác bình thản cãi rằng làm gì đến.
Khai thác bán thống bán tháo cho nhanh , than rơi vãi, để rồi chờ giải pháp đơn giản, dễ dàng và vui thích là xách cặp ra nước ngoài mua than !
Hôm nay đọc báo HNM trên trang nhất có bài “ Có thể phải nhập khẩu khoảng 200 ngàn tấn muối “ thì chán hẳn .
Đất nước ta trải dài theo biển, ôm một vùng biển có độ mặn cao nhất thế giới. Với hơn 3200 kilômét bờ biển nhiệt đới quanh năm nắng nóng, với những đồng muối năng suất cao suốt dọc bờ biển từ bắc vào nam, tưởng như chúng ta không bao giờ phải lo thiếu hạt muối. Thế mà bây giờ chúng ta phải nhập muối biển từ nước ngoài ! Nhập gấp , nhập tới 200.000 tấn .
Câu chuyện về người làm muối được báo chí nói quá nhiều trong quá khứ . Dân diêm phơi mình trong nắng, ướp mình trong muối nhưng giá bán hạt muối làm ra thấp hơn giá thành sản xuất ra chính nó . Nhiều năm người làm muối bị bỏ mặc điêu đứng, khốn cùng trong thị trường muối không bình thường.
Con tôm được giá thì đồng muối thu hẹp để thành ao tôm .Người làm muối bỏ muối làm tôm cũng giống như người làm vườn ở Tây Nguyên chặt cà phê trồng cao su rồi lại chặt cao su trồng cà phê . Giống như người làm ruộng ở Vĩnh Long bỏ lúa trồng cam, nay lại chặt cam cấy lúa.
Con tôm cũng vụ được, vụ mất ! Tay trắng dân diêm quay về cào hạt muối trắng ! Cứ loanh quanh, mò mẫm, bế tắc như con kiến leo cành đa cộc !
Rồi nhà đầu tư nước ngoài nhảy vào. Bờ biển Việt chỗ nào cũng cát trắng, nắng vàng, biển xanh, gió lộng, cho nên chỗ nào cũng có thể làm khu du lịch, làm resort .
Bờ biển Việt Nam chỗ nào cũng thuận tiện giao thương cả thủy lẫn bộ, chỗ nào cũng có thể làm khu công nghiệp, làm cảng biển.
Làm muối chỉ thu được mấy đồng tiền thuế còm cõi nhà nước không đáng công quản lý cho nên việc thu hẹp đồng muối phục vụ cho khu công nghiệp, sân golf, khu du lịch, nó đáng đồng tiền bát gạo hơn.
Hội chứng dự án khu công nghiệp, khu du lịch đang xóa đi những cánh đồng muối mặn mòi mồ hôi người làm muối, xóa đi những cánh đồng muối bảo đảm sự cân bằng, hài hòa của nền kinh tế quốc dân.
Ví dụ như đồng muối Cà Ná, Ninh Thuận ,dù năm 2007 đồng muối Cà Ná mới được Chính phủ quyết định đưa vào quy hoạch hệ thống đồng muối bảo đảm nhu cầu muối của nước ta, nhưng lệ làng thì vẫn quyết định thu hồi 450 ha đồng muối Cà Ná để làm khu công nghiệp Dốc Hầm .
Những người đề xuất nhập muối có rất nhiều lý do để trình NN . Nào thì miền nam mưa sớm, miền bắc mưa nhiều , nào thì diện tích SX bị thu hẹp …. Nào thì , mà ,là …tổng sản lượng muối sẽ giảm, chỉ có thể đạt trên chín trăm ngàn tấn mà nhu cầu cần những một triệu ba trăm ngàn tấn !
Nghe thật xác đáng, thật thuyết phục! Nhưng đó là nhìn nhận thời tiết và xác định sản lượng muối của những người ngồi trong phòng máy lạnh giữa Thủ đô. Còn thực tế ngoài đồng muối thì khác hẳn !
Chưa năm nào đồng muối của cả miền bắc, miền trung, miền nam lại được mùa lớn như năm nay. Sản lượng muối Ninh Thuận tăng 20%.
Chỉ riêng đồng muối Bạc Liêu đủ cung cấp muối ăn và muối sản xuất cho cả đồng bẳng sông Cửu Long. Chỉ một chi nhánh Tiền Giang của công ty muối miền Nam hằng tháng vẫn đều đặn mua được 600 – 700 tấn muối. Mua dễ dàng, vui vẻ vì muối dự trữ trong dân còn dư dả. …
Một xã Hòa Lộc, Hậu Lộc, Thanh Hóa có tới bốn trăm ha đồng muối, một huyện Ba Tri, Bến Tre có trên một ngàn hecta đồng muối, năng suất đều đạt trên 45 tấn/ha. Những con số đó bảo đảm rằng năm nay không hề thiếu muối ?
Được mùa muối, giá muối lại hợp lí, đúng giá trị hạt muối, từ 1.200.000 đ- 1.400.000đ một tấn muối , người làm muối đang hớn hở, tự tin toan tính tăng diện tích đồng muối thì thông tin nhà nước tăng nhập khẩu muối .
Và họ biết làm gì hơn là lo lắng, phải tính đến nước đổ muối dự trữ ra bán chạy và dẹp ngay ý định mở rộng diện tích đồng muối ! Rồi thì phấp phỏng lo âu, cuộc sống lại đầy bấp bênh, khốn khó!
Có một bài viết trên báo Lao động nói hụych toẹt ra rằng bộ chuyện xin cho nhập khẩu muối với lý do giá muối 1.200 đ/kg là quá cao. Mặc dù các bà nội trợ ở các miền quê nghèo khó không một lời than phiền về giá muối. Nói chính xác với giá 1.200 đ/kg muối thấm tháp gì so với mồ hôi đổ ra của người làm muối .
Trong khi đó cí thông tin là : Cục Chế biến thuộc Bộ NNPTNT khẳng định, muối tiêu dùng cho năm 2008 của VN là không thiếu.
Tại sao họ không trình đề tài nào khoa học công nghệ nào để giảm giá thành SX muối cho dân diêm ? hay đơn giản hơn là phương án đầu tư lâu dài cho người làm muối .? Mà chỉ nhăm nhăm tính chuyện cắp tráp ra nước ngoài mua về kiếm lợi nhuận ?
Làm ra hạt muối là việc lam lũ, vất vả . Mồ hôi dân diêm đầm đìa mang vị muối của chính cuộc đời họ .
Không biết đến nắng gió đồng muối, không biết đến vị đắng chát của giọt mồ hôi đổ trên đồng muối làm sao có thể đồng cảm, chia sẻ được nỗi vất vả của người làm muối.
Những người có trách nhiệm quản lí nhà nước về hòn than, hạt muối đã không có ngọn lửa than trong tim và vị mặn cuộc đời thì hòn than đẫm mồ hôi cũng chỉ là sỏi đá tầm thường và hạt muối chín mươi nhăm phần trăm clorua natri cũng nhạt nhẽo, vô vị !