Lãi suất
Trong nền kinh tế thị trường, quan hệ giữa người gửi tiền, người vay tiền và ngân hàng là quan hệ mua bán tiền tệ sòng phằng, thuận mua vừa bán. Ngân hàng cần có khách hàng và ngược lại khách hàng cũng cần có ngân hàng.
Từ đó, lãi suất được hình thành trên cơ sở quan hệ cung cầu của thị trường tiền tệ. Nhà nước trên một phương diện nào đó có thể kiểm soát giới hạn trên của lãi suất nhằm bảo vệ người vay tiền khỏi các tác động bất lợi của các chủ nợ cho vay nặng lãi.
Ở Việt Nam, ngoài những mối tương quan trên, Nhà nước còn ban hành một quy định có lẽ không phù hợp với kinh tế thị trường là buộc lãi suất phải luôn thực dương so với lạm phát. Quy định này can thiệp quá sâu vào quan hệ cung cầu tiền tệ.
Khách hàng có thể tùy chọn ngân hàng để gửi tiền nhưng ngân hàng thì không thể từ chối. Ngân hàng chỉ có một công cụ để điều tiết việc huy động là lãi suất. Khi quy định lãi suất thực dương, ngân hàng như bị trói lại vào cỗ xe lạm phát mà họ không có quyền cầm lái. Đối với ngân hàng, lạm phát là khách quan, không thể bắt họ chịu trách nhiệm về một yếu tố nằm ngoài tầm kiểm soát của họ.
Ở nhiều nước, mức lãi suất tiền gửi tiết kiệm rất thấp, thậm chí người gửi tiền còn phải trả phí quản lý tài khoản cho ngân hàng. Thí dụ, ở Nhật Bản, lãi suất tiền gửi trong nhiều giai đoạn lùi về sát mốc 0%, ở Mỹ, lãi suất gửi tiền phổ biến ở mức 1 – 2% khi trong quý 1 năm 2008, đồng USD mất giá cỡ 20% so với nhiều đồng tiền khác.
Trong tình hình lạm phát, mọi người dân đều buộc phải chia sẻ gánh nặng này. Đối phó với lạm phát, mỗi cá nhân tự chọn những phương thức khác nhau để bảo vệ tài sản của mình như: mua hàng, trữ vàng, trữ ngoại tệ, … Giữ tiền mặt ở nhà, người dân có thể tổn thất tương ứng với mức lạm phát, còn gửi ngân hàng, ít nhất người dân cũng vớt vát được phần nào giá trị nhưng gửi tiền ngân hàng không thể là phương thức bảo vệ vạn năng một trăm phần trăm trước lạm phát.
Khi lạm phát ở mức cao, quy định buộc lãi suất thực dương là không có tính khả thi và tạo thành áp lực nặng nề lên lãi suất cho vay, góp phần làm cho lạm phát trở nên trầm trọng hơn.
Có thể, khi đặt ra quy định trên, Nhà nước vẫn dựa trên tiền đề là các ngân hàng do Nhà nước sở hữu toàn bộ và Nhà nước sử dụng ngân hàng như một phương tiện thực thi chính sách xã hội của mình.
Với xu hướng cổ phần hóa, sắp tới đây, hầu hết các ngân hàng đều có cấu trúc sở hữu đa thành phần và Nhà nước nên “chơi đẹp” hơn trong mối quan hệ mới này. Tuy rằng ngân hàng là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt nhưng Nhà nước không thể điều khiển ngân hàng bằng những mệnh lệnh thuần túy hành chính và phi kinh tế.
Sau hàng trăm năm phát triển, nhiều nước mới ngộ ra rằng cần duy trì sự độc lập tương đối của các định chế tài chính như Ngân hàng Trung Ương, Ngân hàng Thương mại với quyền lực Nhà nước. Chỉ khi để các định chế tài chính này vận hành theo đúng các quy luật của thị trường tiền tệ thì mới đem lại sự ổn định, bền vững lâu dài cho nền kinh tế.
Bạn có đang gửi tiền hay vay tiền không?
Mức lãi suất hiện nay tác động thế nào đến việc làm ăn của bạn?
Theo: blog Trương Đình Anh
http://vn.myblog.yahoo.com/anh-truong/article?mid=342