Hai mặt của một vấn đề

Trong những sự kiện trên lĩnh vực hoạt động văn hoá năm 2006 có một cuộc triển lãm gây ấn tuợng hơn cả. Đó là cuộc trưng bày với đề tài về “Thời bao cấp” tại Bảo tàng Dân tộc học, một địa chỉ mà trong những năm gần đây có nhiều hoạt động gây ấn tượng.

Với những người đã từng trải qua những năm tháng “bao cấp” thì đó là dịp được hồi cố lại những kỷ niệm khó có thể nào quên. Với thế hệ trẻ ở độ tuổi không thể có yý niệm về thời bao cấp như một phần ký ức thì thoạt tiên chúng có thể buồn cười và khó tưởng tượng nổi những gì mà cha mẹ chúng đã từng trải qua. Những hòn đá, viên gạch vỡ hay cái rổ, cái rá mà lại có thể được dùng để thay thế cho sự hiện diện của mỗi người chờ đến lượt để mua hàng. Rồi những vật dụng, nhu yếu phẩm thời cha mẹ chúng khan hiếm, phải phân phối,dè sẻn mà giờ đây ê hề và chắc chắn không dễ thuyết phục bọn trẻ ngày nay “dùng tạm” … Nhưng khi đã được giảng giải thì thế hệ trẻ có thể cảm được phần nào những gian khổ mà cha mẹ chúng đã phải chịu đựng. Điều đó có thể mang lại những tác động tốt như lòng biết ơn đối với các đấng sinh thành hay rộng lớn hơn là đối với cái sự nghiệp mà các thế hệ trước đã phải gánh vác để có đựơc ngày hôm nay.

Tôi cũng đã quan sát nhiều người nước ngoài đến xem trưng bày. Họ dễ dàng nhận ra một phần lịch sử Việt Nam thời đã qua mà với những khả năng so sánh họ sẽ hiểu được những thay đổi của Việt Nam ngày hôm nay mà họ đang chứng kiến, cũng như giải thích được vì sao con người Việt Nam đã chiến thắng trong mọi cuộc đương đầu với những nước lớn hơn, giàu hơn bội phần… Trong nhiều điều mà người nước ngoài khâm phục đến mức không thể hiểu nổi là sức chịu đựng bền bỉ của con người Việt Nam…

Tóm lại, đây là một cuộc trưng bày hấp dẫn. Nhưng xem rồi lại nghĩ ngợi đến nhiều điều. Thời bao cấp cách nay mới có hơn hai thập kỷ, đâu có xa mà dấu tích chẳng còn là bao. Anh chị em bên bảo tàng cho biết để có được những hiện vật như vậy công lênh sưu tầm không nhỏ. Chỉ cách đây hơn hai chục năm, nhà ai chẳng có sổ gạo, ai chẳng có tem phiếu, cái xe đạp nội hoá nhãn hiệu “Thống nhất” tuy được coi là “đờ-rim”(Dream-giấc mơ) của đời công chức nhưng cũng rất phổ biến trong gia sản của nhiều nhà, cái quạt tai voi Liên Xô không chỉ làm mát mà còn làm sang cho căn phòng của một gia đình cán bộ…Vậy mà cho đến hôm nay tất cả những thứ ấy đã trở nên hiếm hoi đến khó tưởng. Dường như nó biến đi đâu và vào lúc nào chẳng ai hay.

Thói quen “có mới nới cũ”, khát vọng luôn muốn đổi đời… dường như đã tạo nên tâm lý không mốn lưu giữ lại những cái đã qua như những kỷ niệm cho mình. Đó là lý do vì sao di vật để làm bảo tàng ở nước mình rất nghèo nàn. Và cả cách nhìn về quá khứ cũng thường phiến diện.

Quả là cuộc trưng bày này thật nhiều ấn tượng nhưng hiện vật còn quá khiêm tốn so với hiện thực của “thời bao cấp”. Dường như những người đã từng sống qua thời kỳ lịch sử này vẫn cảm thấy thiếu mất một cái gì đó . Đứng sát cạnh tôi trong phòng trưng bày có một vị khách cao tuổi chỉ vào những hiện vật như tem phiếu, sổ gạo theo tiêu chuẩn của người dân, thợ thuyền hay công chức, khẽ khàng đưa ra lời bình luận rằng đây mới là “một mặt của vấn đề”. Rồi ông khẽ đọc một bài văn vần loáng thoáng nhắc đến các địa danh “Nhà Thờ”, “Tôn Đản”…(*)

Hẳn nhiều bạn sống qua thời bao cấp đều từng râm ran truyền tụng những bài vè trong một kho tàng rất phong phú của một loại hình văn học dân gian giúp mọi người bớt cái mà ngày nay người ta dùng chữ là “xì-tờ-rét”(stress) của thời bao cấp. Xin lục lại trong trí nhớ lại cái bài vè mà ông khách nọ đã đọc :”Tôn Đản là chợ vua quan-Nhà Thờ là chợ trung gian nịnh thần- Đồng Xuân là chợ thương nhân-Vỉa hè là chợ nhân dân anh hùng- Căng tin là chợ cuối cùng- Công chức, cán bộ tưng bừng bốc thăm” .

Đã nằm trong dòng dân gian, thì thế nào cách nhìn cũng dễ từ phía mặt trái của đời sống, pha chút chua chát, pha chút phê phán. Hồi ấy, những câu vè ấy dễ bị coi là “phản động”. Nay, với độ lùi của thời gian, câu vè chỉ còn là dấu tích của cách nhận thức cực đoan một chút, sâu cay một chút của một thời về một quan niệm của nhà nước muốn bao cấp cả sự quan tâm đến mọi tầng lớp xã hội trong một thời đoạn lịch sử vô cùng khó khăn. Và cũng chính vì thế mà, chúng ta có thể cảm nhận được một cách sâu sắc hơn những đổi thay của cuộc Đổi mới đang diễn ra đến nay mới ngoài hai thập kỷ mà cái thời bao cấp đã tuởng như xa lắc xa lơ…

Trở lại với lời bình luận của vị khách cao tuổi trong phòng trưng bày “thời bao cấp”. Đúng là nếu “bao cấp” chỉ được phản ảnh từ một phía về sự chịu đựng cũng là sự hy sinh vô bờ bến của dân, “một mặt của vấn đề” thì chưa thật đủ . Đúng là mọi vấn đề đều phải có hai mặt như một chỉnh thể. Và sự khác biệt hay đối lập của hai mặt ấy đã tạo nên một diện mạo có sức sống và không ngừng đòi hỏi sự thay đổi. Đó cũng là động lực mang đến sự trưởng thành của xã hội và chính Đổi mới là một bước đột biến trong tiến trình trưởng thành ấy.

Hai mặt của một vấn đề có thể vận vào cách nhìn nhận khá thông tục của chúng ta hiện nay khi nói đến “mặt trái của cơ chế thị trường” chẳng hạn, hay rồi sắp tới sẽ lại có nhiều người nói về “mặt trái của WTO” để mà đổ vấy hay phê phán. Nói cho cùng thì chỉ có “hai mặt của một vấn đề” mới tạo nên một sinh thể sống động và phát triển mà thôi. Đó cũng là cách nhìn đối với mọi chiều của thời gian đọng lại trong ký ức của mỗi người.

11.2006
Dương Trung Quốc

http://blog.360.yahoo.com/blog-oCrBeUYgbqmW2VaYQBlnsYkk?p=9

This entry was posted on Thứ tư, Tháng sáu 11th, 2008 at 11:39 sáng and is filed under Xã hội. You can follow any responses to this entry through the RSS 2.0 feed. You can leave a response, or trackback from your own site.

Leave a Reply