Cái nhìn của một trí thức VN ở nước ngoài
”Cách ðây hõn 60 năm, cụ Ðào Duy Anh đã viết như sau khi nhận xét về tính cách của người Việt: “Về tính chất tinh thần thì người Việt Nam ðại khái thông minh, nhưng xưa nay thấy ít người có trí tuệ lỗi lạc phi thường. Sức ký ức thì phát ðạt lắm, mà giàu trí nghệ thuật hơn trí khoa học, giàu trực giác hơn luận lý. Phần nhiều người có tính ham học, song thích văn chương phù hoa hơn là thực học, thích thành sáo và hình thức hơn là tư tưởng hoạt ðộng… Tính khí cũng hơi nông nổi, không bền chí, hay thất vọng, hay khoe khoang trang hoàng bề ngoài, ưa háo danh và thích chơi cờ bạc” (17). Tôi thấy, cho ðến nay, những nhận xét này vẫn còn chính xác, nhất là trong giới trí thức Việt Nam ở hải ngoại.
Mới ðây, theo một thống kê được nhà nước Việt Nam công bố, có khoảng hai triệu rưỡi người Việt hiện ðang sống rải rác trên toàn cầu. Trong số này, có khoảng 300 nghìn ngýời có tay nghề cao hay có trình độ đại học trở lên. Ðây là một con số không nhỏ, nếu so với con số một triệu ở trong nýớc. Có ngýời ðã lạc quan cho rằng lực lượng trí thức hải ngoại này có thể chắp cánh cho Việt Nam bay vào thế kỷ 21 cùng với các nước trong vùng. Nếu chỉ đọc qua những bản tin về sự thành công của giới trí thức gốc Việt ở hải ngoại thì niềm tin tưởng trên cũng có cõ sở. Nhưng theo kinh nghiệm cá nhân, tôi lại thấy ðó chỉ là ảo vọng. Tôi thấy cần phải cảnh giác những lời bình phẩm có tính cách tự cao tự ðại như người Việt Nam ta hiếu học, học giỏi, thông minh, v.v… Trong thực tế, học lực của phần đông học sinh gốc Việt Nam chỉ ở mức ðộ trung bình, thậm chí dưới trung bình. Tôi ðã thấy nhiều sinh viên Việt Nam gặp khó khăn và cũng khốn đốn “vật lộn” ðể thi đỗ vào các trường đại học ở Úc và Mỹ.
Người Việt ta chưa chắc ðã hiếu học, nhưng chắc chắn là hiếu bằng cấp, hơn các dân tộc khác. Thực ra, ở các nước Tây phương, học hành ra trường ðể có một mảnh bằng là một việc không khó, nhưng trở thành xuất sắc là việc không dễ chút nào. Và cũng theo kinh nghiệm cá nhân, tôi có cảm giác rằng sinh viên gốc Việt cũng không có gì gọi là xuất sắc trong học hành hay nghiên cứu so với sinh viên người bản xứ. Có người đạt ðược những thành tích vượt bực trong khi còn đi học, nhưng khi tốt nghiệp lại không có đóng góp hay sáng kiến gì đặc biệt, đáng kể.
Tôi vẫn thường tự hỏi tại sao ta lại quá kém trong hoạt ðộng khoa học nhý thế? Có thể nói từ xưa, nước ta không có một truyền thống khảo cứu khoa học. Ðọc lịch sử Việt Nam từ các triều ðại Ðinh, Lý, Lê, Trần và Nguyễn, ai cũng thấy nước ta có nhiều anh hùng quân sự, nhà thơ, nhà sử học, nhưng rất ít nhà khoa học, kỹ sư hay nhà kinh tế. Hệ thống giáo dục của nước ta ngày xưa được bắt chước theo mô hình giáo dục của Trung Quốc, đòi hỏi người học sinh phải tuân thủ sách vở một cách máy móc và không khuyến khích sự tự do tìm tòi, thử nghiệm, hay chất vấn. Nó ca ngợi, tuyên dương những người thuộc làu những ðiều rãn dạy của Khổng Tử, và coi thường những ai làm nghề tay chân (kỹ sư, khoa học gia, công nhân, nông dân, v.v…) hay làm thương mại.
Khi người Pháp vào Việt Nam, hệ thống giáo dục Trung Quốc được thay thế bằng hệ thống giáo dục Pháp, một hệ thống có mục tiêu là ðào tạo ra những thầy thông, thầy phán, hay quan chức ðể thực thi đường lối, chính sách của kẻ cai trị. Hậu quả là nó làm cho học sinh tiêm nhiễm cái tâm lý hám danh và sính bằng cấp, học ra ðể làm quan, làm ông nghè hay nhằm giật được một mảnh bằng để làm rạng danh gia đình hay khoe cùng người hàng xóm, chứ không nhằm đóng góp kiến thức hay mang lại phúc lợi cho xã hội và nhân loại. Với hệ thống giáo dục này, học sinh phải học thuộc lòng sách giáo khoa nhằm cố thi ðỗ trong các kỳ thi rất gắt gao. Lối giáo dục này vẫn còn kéo dài tới những nãm trong thập niên 60 và 70 mà tôi (và nhiều người cùng thế hệ) từng là những “nạn nhân” của nó
Viết bởi A1-blog
Theo: http://my.opera.com/weblopminh/blog/index.dml/tag/B%C3%80I%20VI%E1%BA%BET%20HAY