Chính sách lãi suất khiến chứng khoán thêm lao đao
Ngày 19 tháng Năm vừa qua, Ngân Hàng Nhà Nước ra qui định tăng lãi suất cơ bản, từ đó tăng lãi suất cho vay, đồng thời huỷ bỏ mức trần lãi suất huy động vốn.
Cùng thời điểm lãi suất mới có hiệu lực, thị trường chứng khoán chảo đảo mạnh do giới đầu tư rút tiền ra khỏi thị trường chứng khoán và gởi vào ngân hàng.
Liệu hệ thống ngân hàng sẽ trở nên hấp dẫn hơn cho giới đầu tư? Và thị trường chứng khoán sẽ bị ảnh hưởng ra sao?
Từ lý thuyết đến thực tiễn
Các lý thuyết kinh tế nhấn mạnh rằng, để đạt được một mục tiêu, người ta phải chấp nhận thất bại, hoặc tối thiểu là không kiểm soát được, một mục tiêu khác. Nói khác đi, không thể nào cùng một lúc đạt được tất cả các mục tiêu.
Kinh nghiệm này được thể hiện rõ rệt vào ngày 19 tháng Năm vừa qua, khi Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam quyết định cho tăng lãi suất cơ bản lên 12%. Gần như ngay lập tức, thị trường chứng khoán chao đảo mạnh, và tụt điểm rất nhanh trên xu thế sụt giảm, vốn đã diễn ra liên tục trong nhiều ngày liền.
Đây là lần thứ nhì một vị Bộ Trưởng đưa ra những nhận định mà sau đó thực tế thị trường chứng minh là sai. Những tuyên bố như vậy là không thể hiểu được.
Tiến sĩ Vũ Quang Việt
Riêng trong ngày 21 tháng Năm, chỉ số Vn-Index của sàn chứng khoán Sài Gòn mất gần 7 điểm, rơi xuống mức sát 440.
Tình hình thị trường chứng khoán Việt Nam có thể nói là mất tính thanh khoản nặng nề khi cổ phiếu bán ra không nhà đầu tư nào muốn mua. Vào thời điểm này, thị trường chứng khoán vẫn còn tồn tại một phần lớn là nhờ giới đầu tư ngoại quốc.
Những tuyên bố khó hiểu
Trong khi ấy, Bộ Trưởng Tài Chánh Vũ Văn Ninh, một lần nữa lại tuyên bố “vẫn còn cơ hội mua vào” và “không hy sinh chứng khoán.”
Những tuyên bố trên được báo chí trong nước đăng tải cho thấy đây là lần thứ nhì một vị Bộ Trưởng đưa ra những nhận định mà sau đó thực tế thị trường chứng minh là sai.
Những tuyên bố như vậy bị giới quan sát cho là không thể hiểu được; đơn giản vì một Bộ Trưởng không đứng ở cương vị có thể phát biểu như vậy.
Đó là lời nhận định của tiến sĩ Vũ Quang Việt, nguyên là chuyên viên kinh tế cao cấp của Liên Hiệp Quốc, đưa ra vào thời điểm chỉ số Vn-Index còn ở mức khoảng 500.
Trong khi đó, một nhà đầu tư trong nước thì lại khẳng định, đôi khi nhà nước không cần phải làm gì, mà chỉ cần đưa ra những tuyên bố có thể giúp tạo sự ổn định tâm lý nơi nhà đầu tư.
Tình trạng thực tế của thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay là, hầu hết các nhà đầu tư nội địa đều án binh bất động, kiềm giữ tài khoản và hoài nghi về khả năng trổi dậy của thị trường chứng khoán.
Đến ngày 19 tháng Năm, khi lãi suất cơ bản trong ngành ngân hàng được nâng lên, đồng thời với việc huỷ bỏ trần của lãi suất huy động, cả một làn sóng người mang tiền đến gởi vào ngân hàng. Trong số này, một tỷ lệ không nhỏ đến từ giới đầu tư chứng khoán.
Đối chiếu những thông tin do báo chí loan đi, có thể thấy là Việt Nam đang theo đuổi chính sách nhằm kiềm chế lạm phát nhưng không muốn để hệ thống ngân hàng lâm vào tình trạng thiếu vốn. Cụ thể, trước đây các ngân hàng thương mại không được phép huy động vốn với lãi suất vượt quá lãi suất trần.
Đến nay, qui định mới bãi bỏ lãi suất trần, các ngân hàng có thể tự do cạnh tranh huy động vốn. Tuy nhiên, yếu tố kìm chế lạm phát trong chính sách mới thể hiện rõ trong việc chính phủ duy trì mức độ tăng trưởng tín dụng thấp hơn năm ngoái, ở mức dưới 30 phần trăm.
Thêm vào đó, các ngân hàng thương mại bị giới hạn khả năng cho vay thông qua một “giới hạn trên” của lãi suất cho vay.
Nói ngắn gọn, ngân hàng trong nước một mặt phải tăng chi phí đầu vào, mặt khác phải hạ giá thành đầu ra. Và người ta có thể hình dung thấy thị trường ngân hàng trong tương lai sắp tới không thể sinh lời như trước đây.
Làm cho nền kinh tế hồi phục tốt hơn, đó là chữa bằng gốc, chứ không phải bằng cách nhà nước bỏ tiền ra mua cổ phiếu để cứu giá.
Ông Vũ Viết Ngoạn, Phó chủ nhiệm Uỷ ban Tài chính Quốc hội
Điều hành kinh tế theo kiểu phi thị trường
Trong khi qui định mới về lãi suất đã có hiệu lực từ vài ngày nay, giới quan sát vẫn tiếp tục đặt những câu hỏi liên quan đến một số yếu tố mang tính phi thị trường của chính sách này.
Thứ nhất, các ngân hàng thương mại phải cạnh tranh lãi suất huy động, nhưng không được cạnh tranh lãi suất cho vay.
Thứ hai, khoảng cách quá nhỏ giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay khiến ngân hàng bị giảm lợi nhuận và không hấp dẫn với giới đầu tư.
Thứ ba, lãi suất cơ bản là do Ngân Hàng Nhà Nước qui định và từ đó chi phối tất cả các loại lãi suất khác. Liệu lãi suất cơ bản có theo sát và theo kịp diễn biến của thị trường hay không?
Thứ tư, tất cả các hoạt động huy động vốn, mặc dầu diễn ra trong bối cảnh bỏ lãi suất trần, đều phải nằm trong một khung chung, đó là tốc độ tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế không được vượt quá 30%.
Một số nhà quan sát tin rằng, với những yếu tố vừa nêu, hệ thống ngân hàng thương mại sẽ nhộn nhịp trong một thời gian ngắn, để rồi sau đó, nguồn vốn lại bắt đầu chảy ngược vào thị trường chứng khoán.
Để kết thúc, xin trích một phát biểu của ông Vũ Viết Ngoạn, Phó Chủ Nhiệm Uỷ Ban Tài Chánh Quốc Hội Việt Nam, đăng trên tờ Hà Nội Mới vào ngày 21 tháng Năm vừa qua, đó là muốn chứng khoán hồi phục, thì phải “làm cho nền kinh tế hồi phục tốt hơn, đó là chữa bằng gốc, chứ không phải bằng cách nhà nước bỏ tiền ra mua cổ phiếu để cứu giá.”
Theo: http://ykien0711.blogvis.com/2008/05/22