Đầu cơ với kỳ vọng giả tạo.
Tóm tắt
Biến động mạnh của thị trường chứng khoán trong thời gian ngắn do đầu cơ bên cạnh các yếu tố nền tảng của công ty và nền kinh tế còn là việc chi phí tạo lập kỳ vọng thấp. Trong phạm vi cạnh tranh nhóm lợi ích (interest groups) thì chính chi phí thấp này cộng với một số đặc trưng của thị trường đã tạo nên kỳ vọng giả tạo và gây nên sự biến động mạnh rất rủi ro cho toàn thị trường hoặc từng cổ phiếu riêng lẻ. Từ đó thị trường có thể tăng trưởng cũng như đổ vỡ rất nhanh trong ngắn hạn. Qua đây một số giải pháp được đưa ra nhằm tạo cho thị trường lành mạnh hơn.
1. Một số nhận định ban đầu Kỳ vọng giả tạo là mức độ thị trường tin vào tín hiệu nào đó được lặp đi lặp lại nhiều lần trong quá khứ rất ngắn và từ đó tạo nên một xu hướng tương tự trong tương lai rất gần mặc dù không phản ánh đầy đủ các yếu tố nội tại doanh nghiệp và nền kinh tế. Khác với phân tích đồ thị trong đầu tư[1], kỳ vọng giả tạo được tạo ra khi thị trường hoặc giá cổ phiếu nào đó tăng liên tục hoặc giảm liên tục nhiều phiên và không có lý do căn bản từ phía doanh nghiệp.
Chỉ số chứng khoán vnindex từ 500 điểm năm 2006 lên 1170 điểm đầu năm 2007 và sau đó là giảm xuống dưới 500 điểm trong những ngày cuối tháng 3/2008 đã nói lên rằng: thị trường chứng khoán Việt Nam quá rủi ro và có thể nói là rủi ro nhất trên thế giới và có vẻ lợi nhuận cũng rất lớn với một nhóm nhà đầu tư?[2],[3].
Sự đi xuống không phanh của thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian qua có nhiều nguyên nhân như: thay đổi chính sách vĩ mô, sức khỏe của nền kinh tế, IPO doanh nghiệp lớn và phát hành thêm ra công chúng của các công ty niêm yết, và nền kinh tế toàn cầu. Thị trường luôn do cung cầu (thực và giả) quyết định dưới một khung pháp lý. Tăng trưởng cũng như suy giảm nhanh tựu chung lại là do kỳ vọng về thị trường thay đổi nhanh ở cả hai phía cung và cầu.
Một thị trường hiệu quả phản ánh khá tốt các yếu tố cơ bản của công ty và của nền kinh tế, nhưng trong thị trường chứng khoán Việt Nam, kỳ vọng được tạo lập có chi phí quá thấp nên nhiều khi kỳ vọng ngắn hạn và giả tạo và do vậy giá cả không còn là thước đo hoạt động của công ty. Khi chi phí đầu cơ và tạo lập kỳ vọng đám đông thấp (ở cả chiều lên và xuống) thì sẽ rất rủi ro cho các nhà đầu tư cá nhân với số vốn nhỏ do chạy theo kỳ vọng giả tạo. Thị trường do vậy biến động rất mạnh và rủi ro.
2. Cấu trúc thị trường và chi phí tạo lập kỳ vọng thấp
- Trước hết, chúng ta nhìn xem cơ cấu các nhà đầu tư tham gia thị trường:
Nhóm 1: các nhà đầu tư cá nhân trong nước. Đây là nhóm có số lượng lớn nhưng lại có tiềm lực tài chính cho mỗi cá nhân là nhỏ, mặc dù tổng khối lượng nắm giữ cổ phiếu của họ không thua kém gì các nhà đầu tư có tổ chức; tâm lý đầu tư không ổn định và dễ phá bỏ kế hoạch đầu tư do không có chiến lược rõ ràng và mang tính bầy đàn cao; hạn chế tiếp cận được thông tin và có thể bị bất lợi khi tham gia thị trường.
Nhóm 2: Nhà đầu tư có tổ chức trong nước (bao gồm cả tự doanh và quỹ đầu tư) với đặc điểm là tâm lý đầu tư tốt, có lợi thế về thông tin và quyền lực tài chính tập trung ; có lợi trong việc tham gia lệnh mua và bán do có khối lượng lớn và không thể kiểm soát được vấn đề ưu tiên lệnh của nhà đầu tư cá nhân theo quy định hiện hành; và liên tục gia tăng quyền lực do có các thành viên mới tham gia; số lượng tham gia chưa nhiều.
Nhóm 3: Nhà đầu tư nước ngoài bao gồm tổ chức và tư nhân với đặc điểm là có lợi về sức mạnh tài chính; tâm lý và chiến lược đầu tư tốt; kinh nghiệm tham gia trên các thị trường đang phát triển; và cũng có thêm các thành viên mới và đa số có chiến lược trung và dài hạn;
- Nguồn tiền cấu tạo nên thị trường:
Nguồn tiền thứ nhất là trực tiếp từ tiết kiệm cá nhân (cả cá nhân nước ngoài và trong nước). Đây là nguồn tiền lớn và rất lớn, nhưng dễ thay đổi vào ra thị trường trong mối tương quan với các tài sản khác như vàng, ngoại tệ.
Nguồn tiền thứ hai là từ sự hỗ trợ của các nhà băng thông qua repo hoặc vay ngắn hạn (cho cả cá nhân và nhà đầu tư có tổ chức). Đây là nguồn tiền dễ vỡ với cơ chế hỗ trợ vốn trực tiếp từ phía ngân hàng theo giá cổ phiếu hiện tại trên sàn. Cơ chế tài chính này cần thời gian làm rõ hơn nhưng chúng ta sẽ thấy một chút trong phần phân tích thực tế và giải pháp cuối bài.
Nguồn tiền thứ ba là từ các quỹ đầu tư, các nhà đầu tư có tổ chức và các quỹ tự doanh (cả nước ngoài và trong nước). Trong phần lớn các trường hợp, do được hoạch định kế hoạch từ trước, nên nguồn tiền này là tương đối ổn định.
- Chi phí tạo lập kỳ vọng giả tạo thấp: Chi phí tạo lập kỳ vọng giả tạo ở thị trường chứng khoán Việt Nam thấp bởi các nhân tố sau:
Thứ nhất, khoảng biên độ giá không đủ lớn. Biên độ nhỏ và ít nhà đầu tư có tổ chức sẽ đẩy chi phí tạo cung/cầu giả qua nhiều phiên ATO/ATC hoặc giá trần/sàn liên tục trong nhiều phiên.
Thứ hai, số lượng các nhà đầu tư tổ chức không nhiều. Khi các nhà đầu tư có tổ chức không nhiều thì khả năng lớn sẽ có sự hiểu ngầm định qua giao dịch. Điều này hoàn toàn giống như việc đưa ra tín hiệu liên tục cho đối tác nhằm cùng hợp tác tránh tình trạng cùng cạnh tranh để mang lại kết quả cao nhất[4].
Thứ ba, lượng lưu hành cho mỗi cổ phiếu đơn lẻ là không lớn. Với số vốn cho lượng cổ phiếu lưu hành của nhiều công ty trên sàn giao dịch là không nhiều và kết hợp với biên độ giao dịch thấp sẽ làm giảm chi phí tạo kỳ vọng ảo thông qua giá trần và sàn, ATO và ATC.
Thứ tư, tâm lý bầy đàn đầu tư theo chỉ số chung của thị trường[5]. Trong thời gian gần đây, thị trường chỉ cần nhìn các cổ phiếu dẫn dắt thị trường là lập tức các cổ phiếu nhỏ sẽ chạy theo cùng xu hướng cho dù công ty của các cổ phiếu nhỏ đang kinh doanh với hiệu quả tốt/kém đến đâu đi nữa. Điều này cho thấy các nhà đầu cơ và tạo lập thị trường chỉ cần kiểm soát các cổ phiếu dẫn dắt thị trường và tự khắc các cổ phiếu khác sẽ theo xu hướng dẫn dắt. Đây chính là điểm yếu chết người của các nhà đầu tư cá nhân và cũng là nhân tố làm giảm chi phí tạo kỳ vọng giả tạo.
Thứ năm, cấu trúc thị trường lỏng lẻo, đặc biệt ở nhóm tự doanh chứng khoán với hành vi có thể là “mượn cổ phiếu” hoặc “mượn tiền” của khách hàng để kinh doanh rất khó bị kiểm soát và phát hiện và do vậy làm gia tăng quyền lực của nhóm này.
Thứ sáu, công nghệ thị trường chưa “liên tục” và cơ cấu tài chính của thị trường là yếu. Việc vào lệnh không trực tiếp từ lúc đặt lệnh đến lúc khớp lệnh sẽ phát sinh nhiều “ưu tiên” lệnh không thể kiểm soát được theo khuôn khổ luật hiện hành. Thêm vào đó cơ chế định giá hỗ trợ vốn cho chứng khoán là lỏng làm cho nguồn vốn này không ổn định và dễ vỡ. Vấn đề này cần xem xét thêm về cả kỹ thuật và cấu trúc thị trường tài chính, xin không bàn chi tiết ở đây.
Thứ bảy, thông tin không liên tục và rủi ro đạo đức của báo chí. Thông tin của các công ty chưa được minh bạch và hiện tại chỉ có một số ít công ty có đối thoại và đưa thông tin định kỳ hoặc các hoạt động chính của doanh nghiệp thường xuyên. Đồng thời các nhà đầu tư chạy theo các tin đồn hoặc các nhận định của báo chí mà trong đó đạo đức của người làm báo đôi khi bị vi phạm (và đây là vấn đề còn phải cải thiện rất nhiều)[6]
3. Thực tiễn ứng dụng “đỗ vỡ tích cực”[7]
- Giai đoạn 1: điều chỉnh giảm từ đỉnh cao 1170 tái lập lại mốc 700 năm 2006. Nhiều nhà đầu tư và các chuyên gia cho rằng đây là giai đoạn chấp nhận được khi nhận thấy thị trường có bước đột phá quá nhanh trong thời gian ngắn đi từ 700 lên 1170. Và do vậy đây là sự điều chỉnh cần thiết để đảm bảo thị trường đi lên bền vững hơn. Tuy nhiên thị trường không dừng ở đây.
- Giai đoạn 2: Mặc dù có những nhận định giá hợp lý từ chính các quỹ và các nhà đầu tư có tổ chức, nhưng chính họ lại không mua vào và có vẻ như họ lại là người bán ra mãnh liệt, tạo tín hiệu liên tục cho các nhà đầu tư có tổ chức khác bán ra và với chi phí tạo kỳ vọng giả tạo thấp, vòng quay giảm giá tiếp tục. Quá trình diễn ra như sau:
Bước 1, các nhà đầu tư có tổ chức không có sự đồng thuận mua vào hoặc bản thân họ cho rằng một nhà đầu tư có tổ chức thì khó có thể tạo sức cầu đủ lớn với các nhà đầu tư cá nhân đang có tâm lý bán ra. Và do vậy không đồng thuận mua vào cùng một thời điểm.
Bước 2, với đặc trưng của nhà đầu tư cá nhân và dưới tác động của giá vàng, lãi suất huy động ở mức cao, thiếu khả năng phân tích trung và dài hạn, và rủi ro đạo đức của báo chí đã tác động tâm lý cho bán ra của nhà đầu tư cá nhân. Có lẽ nhận định thị trường thời gian qua chính là “khi thị trường đi ngang” là lúc thị tiếp tục đi xuống. Lòng kiên nhẫn bị lung lay.
Bước 3, thị trường tiếp tục không có dấu hiệu bình ổn khi các nhà đầu tư lớn chỉ cần tập trung vào các cổ phiếu dẫn dắt thị trường và lái toàn bộ thị trường theo ý của họ. Do chi phí tạo lập kỳ vọng thấp, các nhà đầu tư có tổ chức và có tiềm lực tài chính đã có sự ngầm định bán ra đầu cơ ngắn hạn giá xuống. Khối lượng giá ATO/ATC/giá sàn nhiều phiên liên tiếp ở các mã dẫn dắt khiến cho nhà đầu tư cá nhân tạo nên kỳ vọng về giá ở các phiên sau đó (triệt tiêu cầu ngắn hạn). Và nhà đầu tư cá nhân do vậy tiếp tục bán ra với kỳ vọng giá giảm hơn nữa đang hiển hiện. Thị trường mất thanh khoản bán. Kỳ vọng giá sẽ còn giảm gia tăng hơn nữa.
Bước 4, các công ty chứng khoán là người nắm rõ nhất nguồn tiền còn có thể sẵn sàng tham gia thị trường trên tài khoản tại công ty và chính các công ty chứng khoán hiểu số cổ phiếu Repo giá thấp là một món hời nếu giá cả về một mức thấp hơn. Đây là một khe hở vô cùng nguy hiểm của thị trường chứng khoán Việt Nam. Đến ngưỡng kháng cự của cổ phiếu cầm cố và repo nhưng các quỹ tự doanh tiếp tục bán ra (tạo cung lớn, khi cầu tiềm năng không tham gia), thị trường sụt giảm đẩy số cổ phiếu này chui ra khỏi tài khoản gây hiện tượng ngập lụt cung ngắn hạn. Thị trường mất thành khoản bán hơn, kỳ vọng đã được tạo lập giá còn giảm nữa.
Bước 5, gây tâm lý bất an cho các nhà đầu tư là các rủi ro đạo đức của báo chí và các nhà làm chính sách để báo chí phiên dịch hộ chính sách cho họ. Tiếp tục nhiều bài báo cho rằng nền kinh tế Việt Nam đang trên bờ khủng hoảng và Chính phủ hy sinh chứng khoán để cứu lạm phát, các bài báo với tin giật gân và rất nhiều bài báo khác nữa mà tựu chung lại là do nhà đầu tư cá nhân không tìm hiểu nguồn chính thống và đồng thời các nhà chính sách không phiên dịch động cơ phía sau của chính sách gây nên hiện tượng này. Kỳ vọng giảm giá tiếp tục được tạo lập và không có điểm dừng.
Nếu không có sự can thiệp của Chính phủ và của SCIC, có lẽ thị trường đã khủng hoảng.
- Giai đoạn 3: sự tham gia của SCIC và can thiệp của cơ quan quản lý. Thị trường chững lại có thể do yếu tố tâm lý được hỗ trợ để bật ngược lại xu thế giảm giá không phanh hoặc tiếp tục xu thế hiện nay ở mức độ quay chậm.
Tuy nhiên SCIC không phải là người cưỡng lại được cấu trúc thị trường đang tồn tại. SCIC và Chính phủ đã hỗ trợ tâm lý (giảm biên độ đóng băng thị trường và các chính sách khác) làm gia tăng chi phí tạo kỳ vọng giả tạo nhưng không thể thay đổi được những yếu tố cấu trúc nền tảng của thị trường hiện tại. Các biện pháp can thiệp này là ngắn hạn nhưng cần thiết trong hiện tại nhưng trong dài hạn điều tiên quyết là phải thay đổi cấu trúc của thị trường.
Như vậy trong trò chơi nắm bắt tâm lý, nhà đầu tư có tổ chức với lợi thế mà thị trường dành cho đã thắng lợi hoàn toàn mà chi phí tạo ra kỳ vọng này không lớn nhưng kết quả lại rất lớn. Và khi thị trường có sự can thiệp thì với cơ chế hiện tại, rất khó cho nhà đầu tư cá nhân kịp phản ứng để mua. Kỳ vọng giả tạo đã làm nhà đầu tư cá nhân thiệt hại nặng nề.
Trong thời gian vừa qua, các nhà đầu tư nước ngoài với chiến lược dài hơi đã tiếp tục mua vào với khối lượng lớn xét theo khoảng thời gian tuần và tháng và nhà đầu tư nước ngoài đang thực hiện chiến thuật “kiến tha lâu cũng đầy tổ” trên chính các cuộc tháo chạy “do đầu cơ kỳ vọng giả tạo cực ngắn” cho rằng giá tiếp tục giảm trong tương lai. Đây cũng là điều đáng phải suy nghĩ cho các nhà đầu tư trong nước.
Với cấu trúc thị trường hiện tại, chi phí tạo nên kỳ vọng giả tạo là thấp nên hiện tượng cùng tăng/giảm ở hầu hết tất cả các cổ phiếu là khó tránh khỏi, mất thanh khoản mua hoặc bán sẽ tiếp tục xảy ra, và thị trường “thiếu minh bạch và thiếu công bằng” sẽ không phản ánh đúng sức khỏe của doanh nghiệp, của nền kinh tế, và sẽ khó thu hút thêm nguồn tiền cho thị trường sơ cấp. 4. Một số gợi ý cho chiến lược[8] và chính sách Chiến lược hiện tại với các nhà đầu tư cá nhân nhỏ.
Thứ nhất, cách tốt nhất là không nên nhìn giao dịch cổ phiếu dẫn dắt thị trường để quyết định mua bán các cổ phiếu khác. Hãy để các nhà đầu tư có tổ chức “mua và bán” với nhau ở các cổ phiếu dẫn dắt thị trường. Từ bỏ sân chơi ở các cổ phiếu dẫn dắt thị trường và tập trung vào các cổ phiếu nhỏ hoàn toàn giống như một doanh nghiệp nhỏ tập trung vào mảng thị trường nhỏ bị bỏ ngỏ hơn là tập trung vào thị trường lớn đã và đang đuợc tập trung khai thác tối đa.
Thứ hai, theo dõi lượng cổ phiếu và lượng tiền trong tài khoản hàng ngày để tránh hiện tượng bị “mượn cổ phiếu” hoặc “mượn tiền” ngắn hạn. Vấn đề “mượn” là hoàn toàn có thể xảy ra trong cấu trúc thị trường hiện tại. Khi các nhà đầu tư nhỏ cùng thực hiện việc này vì lợi ích chính bản thân sẽ gia tăng quyền lợi của số đông.
Thứ ba, việc tranh mua hay tranh bán ở các cổ phiếu có lượng cung hoặc cầu lớn (tại mức trần/sàn hoặc ATO/ATC) có khi lại là một sai lầm nghiêm trọng vì đó có thể là Cung/Cầu giả tạo vì chi phí tạo lập thấp trong cấu trúc thị trường lỏng. Các cổ phiếu tăng giảm ổn định không ở mức trần/sàn có thể lại là ưu tiên tốt.
Thứ tư, đảm bảo nguồn tiền chắc chắn và không có tỷ trọng vay nhiều. Các cổ phiếu Repo đôi khi lại không phải là các cổ phiếu dẫn dắt thị trường mà là các cổ phiếu có mệnh giá nhỏ, giúp nhà đầu tư cá nhân ổn định nguồn tiền hơn do không bị nhòm ngó và giá khó có thể đến ngưỡng bị giải chấp trong điều kiện hiện tại nhiều cổ phiếu nhỏ của các công ty vẫn làm ăn tốt nhưng đã thấp hơn giá trị sổ sách.
Các kiến nghị chính sách
Giai đoạn vừa qua chính là cơ hội nhìn lại bộ làm sao để tăng tính hiệu quả của thị trường trong tương lai. Nếu khủng hoảng của thị trường chưa xảy ra, thì sụp đổ vừa qua là tích cực trước khi quá muộn để có một khủng hoảng thực sự tác động lên nền kinh tế trong tương lai[9]. (Thực tế thị trường chứng khoán đã từng có giai đoạn như hiện nay, nhưng cấu trúc nền tảng vẫn chưa biến chuyển nhiều và do vậy nhiều khả năng có đợt tăng/giảm tương tự trong tương lai).
Thứ nhất, việc cần làm trước tiên chính là triển khai thực hiện vào lệnh trực tiếp, trực tuyến càng sớm càng tốt, mang lại công bằng trong đặt lệnh và khớp lệnh. Sẽ khó mà kiểm soát được quy định “ưu tiên lệnh” có được tuân thủ hay không với cơ chế hiện nay. Đồng thời tránh T+3 mà hoàn toàn có thể chuyển thành T+1 và hai tài khoản (thực tế đa số các nhà đầu cơ đều có hai tài khoản dưới hai tên khác nhau) để mở rộng thanh khoản và luồng tiền cho nhà đầu tư cá nhân.
Thứ hai, triển khai tiền đầu tư phải về các ngân hàng chứ không thể để ở các công ty chứng khoán. Việc “mượn” nguồn tiền là có thể có, nhưng quan trọng hơn là “bất cân đối thông tin” khi chính các quỹ tự doanh biết được nguồn tiền thực của nhà đầu tư cá nhân. Chúng ta đã có ý định triển khai, nhưng không hiểu vì sao vẫn chưa thực hiện được trong khi nhiều công ty chứng khoán đã thực hiện.
Thứ ba, cơ chế Repo có thể không nên theo giá trên sàn mà nên theo cơ sở hoạt động thực tế của doanh nghiệp chẳng hạn như theo hệ số với giá số sách (book value) để đảm bảo sự tác động của nguồn repo không làm gia tăng mức độ rủi ro của thị trường nhưng vẫn tạo lập thêm nguồn tiền cần thiết. Đây là vấn đề kỹ thuật tài chính, cần thảo luận thêm.
Thứ tư, cho phép thêm nữa các nhà đầu tư có tổ chức tham gia thị trường. Các quỹ tương hỗ nên được khuyến khích thành lập. Có như vậy, việc ngầm định cùng tác động lên thị trường của các nhà đầu tư có tổ chức sẽ giảm và thị trường dựa trên cung cầu thuần tuý nhiều hơn là yếu tố “dẫn dắt giả tạo” thị trường. Và nhà đầu tư cá nhân có thể đầu tư vào các quỹ này hơn là tự đầu tư.
Thứ năm, các doanh nghiệp lớn hơn nữa nên được tiếp tục đưa lên sàn để tăng thêm chi phí tạo lập kỳ vọng ảo. Khi có nhiều các doanh nghiệp lớn với lượng cổ phiếu lớn lên sàn giao dịch, thì việc dẫn dắt thị trường theo các cổ phiếu lớn sẽ mất chi phí lớn hơn nhiều. Tuy nhiên giá chào sàn phải cân nhắc với giá trên OTC.
Thứ sáu, về lâu dài việc loại bỏ biên độ giá nhỏ là cần thiết[10]. Có thể biên độ giá tăng lên trên 10% hoặc không cần biên độ (đi kèm với việc nâng cao quản trị các luồng vốn ngoại gián tiếp). Ngay cả hiện tại, lệnh ATO hay ATC cũng gây ra các tác động méo mó và có thể không cần thiết. Chuyển sang khớp lệnh liên tục trên cả hai sàn đồng thời hai sàn giao dịch có cùng một biên độ giá là điều cần làm càng sớm càng tốt.
Thứ bảy, hạn chế rủi ro đạo đức của báo chí. Người ra chính sách phải nói rõ động cơ phía sau và phiên dịch chính sách chứ không nhường cho “người đọc” ngầm định qua phiên dịch của báo chí như thời gian qua. Đồng thời các bài báo đưa tin phải đứng ở vị trí trung lập, mang tính tường thuật thị trường hơn là nhận định chủ quan về thị trường, tránh phản ánh có lợi cho vị trí thị trường mà người viết báo đang đứng.
Vũ Quang Đông
NCS chuyên ngành Tài Chính - Tiền Tệ
Đại Học Georgetown, Mỹ
dqv@georgetown.edu
Theo:http://blog.cafef.vn/truongtrivinh/#_ftn2
________________________________________
[1] Một điều hiển nhiên là phân tích bằng đồ thị trên thị trường chứng khoán Việt Nam là thiếu chính xác vì các điếm làm giảm chi phí tạo kỳ vọng giả tạo và đặc biệt là biên độ không đủ lớn trong tâm lý đầu cơ bầy đàn dễ vỡ.
[2] Ở các thị trường khác, tăng trưởng cũng không mạnh mẽ và giảm cũng không nhiều trong một khoảng thời gian một năm.
[3] Tác giả Nguyễn An Nguyên có đề cập đến việc chỉ số PE sẽ thấp khi có khủng hoảng, điều này là hoàn toàn đúng nếu nền kinh tế khủng hoảng. Nhưng có vẻ Việt Nam không phải ở trong khủng hoảng. HSBC khuyên đầu tư lâu dài là một cơ hội tốt vì cho rằng PE đã ở mức 12-13 và trung-dài hạn nền kinh tế vẫn đảm bảo tăng trưởng và lạm phát sẽ được kiểm soát, nhưng biến động bất thường là một vấn đề khác và sẽ tác động về mặt tâm lý cho đầu tư dài hạn.
[4] Trong lý thuyết trò chơi nhiều giai đoạn, gọi là quá trình đưa tín hiệu liên tục.
[5] Trong lý thuyết trò chơi, khi một cá nhân rất nhỏ trong một nhóm lớn thì sẽ không có sự hợp tác nếu như không có sự tin tưởng vào hợp tác của đối tác và vô hình chung tất cả thực hiện không hợp tác và cùng hành động về một hướng mang lại ít lợi ích nhất. Vấn đề thực ra khá phức tạp và tác giả đã đơn giản hoá vấn đề.
[6] Một trong những rủi ro đạo đức của báo chí là người viết báo viết trên cơ sở nhận định thị trường theo hướng hiện tại người làm báo đang đầu tư. Hoặc phiên dịch sai chính sách chẳng hạn như bài báo có tiêu đề bài báo là “Hy sinh chứng khoán để cứu lạm phát”- đó là một nhận định sai lầm và “vô lý có chủ ý?”. Còn rất nhiều bài báo như vậy.
[7] Tương tự như vậy, độc giả có thể phân tích quá trình đi “tăng trưởng phi mã” trong giai đoạn đầu năm 2007, phân tích quá trình đi lên và đi xuống quá lớn của một vài cổ phiếu trong năm qua khi thị trường đi ngang, đơn cử như VFC, MHC, SHC và nhiều cổ phiếu khác nữa trong giai đoạn tháng 9 đến tháng 11 năm 2007.
[8] Do dự bất lợi tham gia thị trường, các chiến lược chỉ dành cho các nhà đầu tư cá nhân nhỏ. Tác giả không chịu trách nhiệm về kết quả của chiến lược này. Chiến lược này dựa trên các phân tích trước đó.
[9] Các nghiệp vụ bán khống hay ký quỹ về nguyên tắc đều gia tăng lợi ích cho các bên. Do vậy chi khi thị trường vận hành trên nền tảng tốt thì các nghiệp vụ này mới phản ánh đúng hơn giá trị của doanh nghiệp, còn nếu không sẽ càng gây ra những biến động mạnh hơn và bất bình đẳng hơn với các bên tham gia.